Máy thổi khí và sục khí tại kho Trung Kiên ở TP.HCM đang có 69 mã, chia theo ba nguyên lý khác nhau: 60 mã máy con sò, 6 mã máy kiểu rễ dòng RL, và 3 mã bơm sục khí chìm dòng AE. Bảo hành 1 năm cho toàn bộ nhóm.
So ba nguyên lý cấp khí
Nhóm
Số mã
Cho ra
Hợp khi nào
KHÔNG hợp khi nào
Máy con sò, dòng GB
60 mã
Nhiều khí ở áp vừa
Bể nông và vừa, ao nuôi, dây chuyền hút thổi
Bể sâu, tuyến khí dài nhiều tổn thất
Máy kiểu rễ, dòng RL
6 mã
Giữ lưu lượng khi áp tăng
Bể sâu, trạm xử lý chạy liên tục
Bể nông, nơi chi phí đầu tư phải thấp
Bơm sục khí chìm, dòng AE
3 mã
Vừa tạo dòng vừa đưa khí vào nước
Ao nuôi ngoài trời, bể nông chưa có hệ ống
Bể lớn cần rải khí đều khắp đáy
Chọn nguyên lý trước, chọn mã sau
Sai lầm phổ biến là so công suất giữa ba nhóm. Ba nhóm này khác nhau ở nguyên lý nén nên đường đặc tính khác hẳn: cùng một mức kW, chúng cho ra ba tổ hợp lưu lượng và áp rất khác nhau, và không thay nhau được.
Con số quyết định là tổng áp phải thắng: chiều sâu ngập của ống hoặc đĩa sục, cộng tổn thất dọc tuyến ống khí, cộng tổn thất qua chính đĩa phân phối. Có con số đó rồi mới biết đi nhóm nào, sau đó mới xét tới lượng khí cần mỗi phút.
Vì sao máy con sò tụt lưu lượng khi áp tăng
Máy con sò dùng cánh quay ly tâm, nên khi áp phía sau tăng thì lượng khí đi qua giảm theo. Ở bể nông điều này không đáng kể, nhưng ở bể sâu hoặc tuyến ống dài thì lượng khí thực tế có thể thấp hơn nhiều so với con số ghi trên tem.
Máy kiểu rễ dùng hai rotor ăn khớp đẩy khí theo thể tích nên giữ được lưu lượng gần như không đổi khi áp tăng. Đổi lại, nhóm này đắt hơn và cần bảo dưỡng dầu theo lịch. Ranh giới giữa hai nhóm nằm ở tổng áp và ở số giờ chạy mỗi ngày.
Nơi nào ở miền Nam dùng nhóm nào
Ao nuôi tôm cá ở miền Tây và vùng ven biển phần lớn dùng máy con sò hoặc bơm sục khí chìm, vì bể nông và cần nhiều khí ở áp thấp. Trạm xử lý nước thải của nhà máy chế biến và khu công nghiệp Đông Nam Bộ thường dùng máy con sò cỡ lớn hoặc máy kiểu rễ.
Các xưởng in, xưởng bao bì và dây chuyền đóng gói quanh TP.HCM và Bình Dương dùng máy con sò theo hướng hút để giữ phôi, hoặc theo hướng thổi để làm khô sau khâu rửa. Ba bối cảnh này dẫn tới ba lựa chọn khác nhau dù cùng gọi là máy thổi khí.
Hai phụ kiện không được bỏ ở mọi nhóm
Thứ nhất là van an toàn trên đường đẩy. Khi tuyến ống bị nghẹt hoặc van khóa nhầm, áp dồn ngược về máy; van an toàn là thứ xả bớt trước khi có hỏng hóc. Với máy kiểu rễ, thiếu van an toàn gần như chắc chắn dẫn tới hỏng nặng.
Thứ hai là khớp nối mềm giữa máy và tuyến ống cứng để ăn rung. Các máy nhóm này đẩy theo nhịp nên rung truyền dọc theo ống tới các mối hàn, và sau vài tháng mối yếu nhất sẽ nứt ở nơi khó phát hiện.
Đừng khóa van để giảm gió
Khi thấy khí ra mạnh quá, phản xạ thường gặp là khóa bớt van trên đường ống. Với cả máy con sò lẫn máy kiểu rễ, bịt đường khí làm áp dồn lên máy và dòng điện tăng, máy nóng dần rồi nhảy bảo vệ hoặc hỏng nếu bảo vệ không tác động kịp.
Cách làm đúng là mở van xả bớt khí ra ngoài trời qua một van điều chỉnh, giữ đường khí chính luôn thông. Nếu phải giảm khí lâu dài thì chọn lại mã nhỏ hơn hoặc lắp biến tần, chứ không duy trì cách khóa van vì đó là chạy máy quá tải kéo dài.
Ba số cần gửi khi hỏi mã
Số thứ nhất là độ sâu ngập của ống hoặc đĩa sục.Số thứ hai là chiều dài tuyến khí và số co trên tuyến. Hai số này cộng lại cho ra áp phải thắng, và chính chúng quyết định chọn nhóm nào trong ba nhóm.
Số thứ ba là lượng khí cần mỗi phút, lấy theo thiết kế trạm với bể xử lý, hoặc theo thể tích nước và mật độ nuôi với ao nuôi. Ba số này gửi kèm là đủ để kho khoanh nhóm rồi chốt mã mà không phải trao đổi qua lại nhiều lần.
Đặt máy và chuyện thoát nhiệt
Máy đặt cạn ở nhóm này đều làm mát bằng gió trời. Đặt sát tường hoặc nhốt trong hộp kín thì nhiệt quẩn lại, cuộn dây nóng dần theo từng ca chạy. Nếu cần che mưa hoặc cách âm, hộp che phải có quạt hút và khe thoát gió, hoặc để hở hai phía.
Với ao nuôi và trạm ngoài trời ở miền Nam, nên đặt cụm máy trên bệ cao hơn mức ngập theo mùa, có mái che riêng, và xa mép nước để giảm ăn mòn. Chừa lối vào cả bốn phía để còn thay lọc gió và kiểm vòng bi mà không phải kéo máy ra khỏi bệ.
Bảo hành và giao hàng
Toàn bộ nhóm bảo hành 1 năm kể từ ngày xuất hóa đơn. Có CO CQ theo lô cho khách làm hồ sơ thầu, giá chưa gồm VAT 10 phần trăm. Khách cần hóa đơn thì báo trước lúc chốt đơn để kho xuất kèm cho đủ bộ.
Gửi độ sâu ngập, chiều dài tuyến khí và lượng khí cần qua Zalo 0344 418 984 để Trí chọn nhóm rồi chốt mã. Kho Trung Kiên tại 628/26 Hà Huy Giáp, Quận 12, TP.HCM. Nội thành giao trong ngày, các tỉnh miền Tây và Đông Nam Bộ gửi xe khách.